Dự báo giá chứng khoán: Từ điềm báo giấc mơ, thuật chiêm tinh cho đến đọc đồ thị giá - Chiemtinhtaichinh.com

Dự báo giá chứng khoán: Từ điềm báo giấc mơ, thuật chiêm tinh cho đến đọc đồ thị giá

CHƯƠNG 8: NGHỆ THUẬT DỰ BÁO

Trích từ cuốn sách “Financial Astrology” của David William

Dự báo không thể trái khỏi thất bại trừ khi chúng ta được dẫn dắt bởi nguyên nhân thực sự của hiện tượng; do đó, thành công là sự bảo đảm cho tính thực tế của lý thuyết-giáo sư G.H.Darwin.

GIỚI THIỆU

Mong muốn dự báo tương lai là một trong những đặc trưng của nhân loại. Mọi người liên tục đưa ra các dự báo, mỗi quyết định luôn có một dự báo. Hầu hết các dự báo được thực hiện trong cuộc sống đời thường có mức độ chính xác cao vì chúng là ngắn hạn, chẳng hạn như tiệc trưa hoặc cuộc hẹn ăn tối. Nhiều cải tiến trong khoa học và kỹ thuật đã giúp một người tại New York có thể dự báo chính xác khả năng anh ta sẽ có một buổi tiệc tối tại London hoặc Hawaii trong ngày hôm đó. Về cơ bản, nó là kinh nghiệm đưa ra các lời tiên tri cho mỗi chúng ta. Hầu hết các sự kiện có thể dự báo đã trở thành kiến thức chung nhưng có một số vấn đề mà dự báo chỉ có được từ các chuyên gia trong mỗi lĩnh vực cụ thể. Do đó con người ngày nay sống trong một thế giới mà dự báo có khả năng cao để trở thành hiện thực.

Từ điển định nghĩa dự báo  là một nghệ thuật báo hiệu về tương lai. Nó cũng liệt kê các từ đồng nghĩa như: đoán trước (angury)-nghệ thuật báo hiệu tương lai từ các tín hiệu và điềm báo; điềm báo trước (prognostication)-nghệ thuật báo hiệu sự kiện tương lai từ việc các tín hiệu, điều kiện hoặc chỉ báo quan sát được; Bói toán (divination)-nghệ thuật dự báo tương lai bằng các công cụ siêu tự nhiên; Tiên tri (prophesy)-là nghệ thuật dự báo tương lai bằng siêu tự nhiên hoặc công cụ bói toán; nhằm tiên tri trong cảm giác Kinh thánh nhằm thúc đẩy niềm tin tôn giáo dưới nguồn cảm hứng bói toán, không cần thiết để dự báo sự kiện tương lai, mà muốn cảnh báo, ủng hộ, an ủi…bởi  một nguồn lực tinh thần đặc biệt từ Chúa.

Dự đoán có thể chia thành hai loại là: 1) bói toán (divination) thông qua giấc mơ, ảo mộng, nguồn cảm hứng, khả năng nghe những âm thanh mà người khác không nghe được, khả năng nhìn thấy các sự kiện tương lai, hoặc các bài viết tự động; 2) Điềm báo trước (prognostication) từ việc giải thích các tín hiệu gửi đến từ chúa, chẳng hạn như cách bay của đàn chim, các mẫu hình nhìn thấy trong gan, hoặc các mẫu hình hình học tạo bởi các thiên thể trên bầu trời (chiêm tinh học). Phương pháp đầu tiên thường có được là do bản thân mỗi người, tất nhiên trong tình trạng bất bình thường hoặc trong tình trạng mơ màng. Phương pháp thứ hai dựa trên những hệ thống tinh vi, theo đó ngôn ngữ của những điềm báo và ngôn ngữ của những vì sao được giải thích. Những hệ thống này được phát triển theo cách tương tự bất cứ kiến thức khoa học nào khác được rút ra, được đặt tên theo quan sát về sự bất biến tồn tại qua một thời gian đủ dài, và kết luận từ những bất biến này thành quy luật chung. Ví dụ, chiêm tinh học dựa trên các quan sát từ thời Babylon trong một khoảng thời gian 470,000 năm (không có dữ liệu lịch sử nào ấn tượng như vậy).

DỰ ĐOÁN THÔNG QUA GIẢI THÍCH GIẤC MƠ

Trong thời kỳ bình minh của nhân loại, khả năng dự báo tương lai được dành cho những người thông minh, như pháp sư, phù thủy hoặc thầy mo ở bộ lạc. Niềm tin tôn giáo gần như được phổ biến bởi các phù thủy, gọi là Thuyết duy tâm, nghĩa là; niềm tin mà các sự kiện đem lại thông qua đại diện của vô số tinh thần của đất và không khí, là yếu tố có thể bị kiểm soát bởi bùa mê, câu thần chú, và bùa chú của Pháp sư hoặc Thầy phù thủy. Pháp sư có thể dự báo tương lai thông qua lý giải giấc mơ và pháp sư cũng biết làm như thế nào để đưa bản thân vào trạng thái nhập định, là thời điểm mà pháp sư có thể dự báo tương lai. Những kỹ thuật này cũng được thực hiện ở mức độ cao hơn bởi các dân tộc văn minh hơn, chẳng hạn như người Sume cổ đại, người Do Thái hoặc người Hy Lạp.

Phát hiện thực tế về nghệ thuật bói toán và người đưa ra các quy tắc tiên tri cổ đại được cho là bởi Enmeduranki, vị vua huyền thoại của người Sume, đã sống trước khi có trận đại hồng thủy. Tôn giáo của người Sume cổ xưa là Thuyết duy tâm và tiên tri cổ xưa nhất của người Sume là kỹ thuật lý giải giấc mơ. Nó được tìm thấy trong Thiên sử thi Gilgamesh, là câu chuyện được cho là viết vào khoảng năm 4,000 trước nguyên và được bổ sung nhiều bởi người Babylon trong 2000 năm sau đó. Câu chuyện sử thi này, được ghi lại trên các phiến đất sét, được tìm thấy vào năm 1851-1852 sau công nguyên bởi nhà khảo cổ  nổi tiếng người Anh Henry Layard trong tàn tích của thư viện vua Ashurbanipal (669-653 trước công nguyên) tại sông Nin, Assyria: Trong sử thi, Gilgamesh-một vị vua Sume- mơ thấy mình sẽ bị tấn công bởi kẻ thù là Enkidul nhưng mẹ ông dự báo rằng họ sẽ trở thành những người bạn tốt. Người Babylon sử dụng câu chuyện này để nhấn mạnh giá trị của hòa bình giữa họ với người Sume bản địa, những người bị thôn tính vào thiên niên kỷ thứ hai sau trước công nguyên.

Bói toán đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của dân tộc Do Thái. Một trong những dự báo nổi tiếng nhất được ghi chép lại trong Kinh Cựu Ước là Joseph (khoảng 1800 trước công nguyên) đã giải thích chính xác giấc mơ của Paraon về bảy năm đói kém sau khi có 7 năm được mùa. Joseph sinh ra một cách rất huyền bí, được ghi chép lại ông là người mơ mộng với những giấc mơ trong thời niên thiếu. Ông trở nên như vậy là do món quà tạo hóa, vì người ông nội vĩ đại của ông-tộc trưởng Abraham- đã trở thành bản năng người Sume trong năng lực dự báo của Joseph thông qua giấc mơ của chính ông và trong giải thích của ông về giấc mơ của người khác.

Bắt đầu vào thế kỷ thứ 8 trước công nguyên, nổi lên một loạt cá nhân ở Israel, được gọi là “Nhà tiên tri”, những người được mô tả là có năng lực dự báo khi họ ở trong tình trạng mộng mị hoặc khả năng cảm nhận đặc biệt. Tuy nhiên, những nhà tiên tri Do Thái không quan tâm đến khả năng dự báo hoặc sức hấp dẫn của họ. Họ tin vào nhiệm vụ thiêng liêng là cải tạo lại trật tự đạo đức.

Người Do Thái có những quy định khắt khe khi đến với sự bói toán từ những ngày đầu, theo Kinh Cựu Ước, Deuteronomy, chương 18, chúng ta đọc: “Khi ngươi đến vùng đất mà Jehovah được Chúa ban tặng, ngươi không nên học hỏi ở các quốc gia đáng sợ này. Không nên tìm bất cứ ai mà dùng con trai hoặc con gái của họ đi qua đám lửa, một là họ đã dùng bói toán, hoặc là sự đoán trước (augury) hoặc người bỏ bùa mê hoặc một người phù thủy, hoặc một người phụ nữ ma thuật, hoặc một người cố vấn với một linh hồn quen thuộc, hoặc một thiên tài, hoặc một thầy đồng gọi hồn.”

Những nhà tiên tri Do Thái chỉ trích hành động sùng bái của những  nhà tiên tri ngoại đạo. Một trong những hành động bị cấm là yêu thuật –là kỹ thuật đọc dự báo tương lai qua phương tiện trung gian (thầy phù thủy) mà linh hồn của người chết nói thay. Minh họa nổi bật nhất cho điều này được ghi lại trong Kinh Cựu Ước về câu chuyện vua Saul (1010 trước công nguyên), người thuyết phục thầy phù thủy Endor nhằm triệu tập linh hồn của nhà tiên tri Samuel để dự báo kết quả cuộc chiến với người Phi-li-xtin (NBD: kẻ địch thời xưa của người do thái ở nam Palextin). Dự đoán là vua Saul sẽ đánh bại người Phi-li-xtin và ông cùng những người con trai của ông sẽ trở thành nên hung bạo, dự báo đã trở thành hiện thực.

Do đó, dự báo được phát triển ngoài sự tiên tri; những nhà tiên tri Do Thái tẩy sạch bói toán và biến nó thành một lực lượng tôn giáo quyền năng. Lúc đầu, có ít người can đảm chống lại sự trỗi dậy của chuẩn mực công bằng xã hội và được ban tặng một cái tên rất đáng tôn kính hoặc một tước hiệu cao quý. Trong số những người này là Nathan, người phê phán vua David ( 1000 trước công nguyên) về sự công bằng của Nathan với Bathsheba; và Elijah, người trách mắng vua Ahab (874-863 trước công nguyên) về tên trộm Baboth trong vườn nho của Elijah. Cách đây 2,700 năm,  nhà tiên tri Amos đã lớn tiếng trong tiệm tạp hóa của người Sume rằng nếu người Israsel không ăn năn về sự độc ác của họ, họ sẽ bị hủy diệt. Dự báo của Amos trở thành hiện thực 20 năm sau đó khi Vua Sargon II của người Assyri đã hủy diệt vua của người Israel vào năm 721 trước công nguyên.

Vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên đã xuất hiện nhà lãnh đạo tôn giáo vĩ đại như Lão Tử và Khổng Tử ở Trung Quốc, Gautama Buddha ở Ấn Độ, Zoroaster ở Persia, và nhà tiên tri Jeremiah ở  Jerusalem. Trong suốt  đời mình, Jeremiah bị thúc giục bởi ngọn lửa tiên tri bên trong ông để thuyết giảng về ngày tận thế, để chống lại những người mà ông yêu quý, và để hiểu sự tồn tại vong của quốc gia. Kết quả là ông bị hành hạ và giam cầm. Những nhà tiên tri về ngày tận thế được ví giống như công chúa điên cuồng của thành Troa, Cassandra, người vào năm 1000 trước công nguyên đã dự báo sự sụp đổ của thành Troa hoặc đối với Jeremiah, người đã dự đoán sự sụp đổ của Jerusalem, bị hủy diệt bởi vua Nebuchadnezzar của người Babylon vào năm 586 trước công nguyên.

Một trong những nhà tiên tri Do Thái nổi tiếng nhất là Deniel, trở nên nổi tiếng thông qua giải thích hai giấc mơ của vua Nebuchadnezzar. Giấc mơ đầu tiên là một giấc mơ không được vị vua tiết lộ. Daniel mô tả giấc mơ này liên quan đến bức tượng khổng lồ, nhiều phần của bức tượng được tạo bởi các kim loại khác nhau, Daniel đã giải thích nó chính là sự tồn tại của các vị vua Babylong, Medea-Persia, Hy Lạp và Rome (Daniel 11:1-16). Giấc mơ thứ hai có một thông báo về đánh giá về vị vua từ chúa. Nó trở thành hiện thực khi Nebuchadnezzar “được điều khiển bởi một người, hành động giống như loài vật, có vẻ ngoài như trải qua một cơn bệnh gọi là Hycanthropy. Cuối lúc dự báo, lý do của vua quay trở lại với Daniel, và từ trái tim chân thật ông đã ca ngợi về vị chúa thực sự,” theo Bình luận kinh thánh mới (The New Bible Commentary) của Davidson, Kibbs và Kevan (1953).

Trường hợp được ghi lại đầu tiên về dự báo được thực hiện thông qua khả năng nghe thấy những âm thanh người khác không nghe thấy (clairaudience) của Abraham, người được kể lại, vào năm 2085 trước công nguyên, bởi Jehvoh, “Ngươi rời bỏ đất nước của ngươi, từ bỏ họ hàng của ngươi, từ bỏ ngôi nhà của cha ngươi đến một vùng đất khác mà ta sẽ cho ngươi thấy; và ta sẽ giúp ngươi tạo nên một quốc gia vĩ đại” (“Chúa sáng tạo ra thế giới 12:1-2)

Ví dụ được ghi lại đầu tiên về dự đoán được thực hiện từ một bài viết tự động (automatic writing) là của nhà tiên tri Daniel, vào năm 539 trước công nguyên giải thích một bài viết tay trên bức tường cung điện vua Belshazzar, cụ thể MENE.MENE,TEKEL, UPHANRSIN, khi dự báo về ngày tàn của vị vua. Tối đó, Belshazzar, vị vua của người Chaldean, bị giết chết tàn nhẫn và Darius, Người Ba Tư cổ, trở thành vị vua kế tiếp (Danie;5:5-31) (Thực tế đó chính là Cyrus, người đã thống trị Babylon)

Dự báo cổ điển trong số những người Do Thái bị hủy bỏ đối với sự kết thúc vào thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, sau khi truyền bá của giáo sĩ Cuốn sách về nguồn cảm hứng (Book of the Torch) của nhà linh mục-thần học Ezra vào năm 444 trước công nguyên. Trường đào tạo của các nhà tiên tri, đã phát triển trong suốt ba thế kỷ trước, bị đóng cửa và việc tiên tri bị cấm với hình phạt tử hình vào năm 400 trước công nguyên. Giáo sĩ hoặc nhà hiền triết Do Thái do đó bị thay thế bởi Nabi hoặc nhà tiên tri.

Nhưng hoạt động tiên tri không ngừng lại. Các lời tiên tri huyền thoại tiếp tục được sản sinh, một trong số đó được lưu giữ trong Cuốn sách của Daniel Cuốn sách của Maccabee trong Kinh Cựu Ước  và Cuốn sách Khải Huyền trong Kinh Tân Ước. Tuy nhiên, tài liệu tiên tri này có một hình thức mới, được biết đến là sách khải huyền. Từ khải huyền có nghĩa là phát hiện về những điều chưa biết. Nhưng trong khi các nhà tiên tri đầu tiên là những nhà cải cách xã hội lac quan thì những người viết cuốn sách khải huyền lại là những người bi quan. Họ hiếm khi tiên tri các sự kiện hiện tại ngoại trừ dưới dạng hình ảnh và các tiên tri rất khó hiểu. Lý do là thế giới đang trở nên tồi tệ hơn, chỉ còn cách xóa bỏ đi, và từ đó Chúa can thiệp một cách lạ thường nhắm cứu rỗi nhân loại. Tác giả của các tài liệu khải huyền hiếm khi sử dụng tên của mình đặt tên cho các cuốn sách,thay vào đó là họ gán tên cho một người cổ xưa khác. Lý do là sự tự vệ, vì nhiều lời tiên tri không bao giờ trở thành hiện thực.

Ở Hy Lạp, nghệ thuật bói toán xuất hiện thông qua các Bà phù thủy (the Sybils), là những nữ tiên tri dự đoán cuộc chiến thành Troa và sự sụp đổ của thành Troa. Thậm chí, bói toán trở thành phần phụ họa cho các ngôi đền Hy Lạp. Một trong những ngôi đền nổi tiếng nhất thế giới là Đền thờ tiên tri Delphi, tồn tại trong suốt ngàn năm qua. Kỹ thuật được sử dụng ở đây là đặt linh mục trên một tháp ba chân bằng vàng trên một vực thẳm tỏa lên khí sunphuarơ. Những làn khí này khiến thầy tu rơi vào trạng thái thôi miên, trong khi cô gái phát ra những lời nói không liền mạch; những lời nói này được các linh mục giải thích như là câu trả lời của chúa đối với người hỏi. Nhưng câu trả lời thường trở nên mơ hồ để lời tiên tri luôn luôn đúng.

Ví dụ cổ điển cho sự mơ hồ này là trường hợp của Croesus, Vua Lydia (560-640 trước công nguyên), người yêu cầu lời tiên tri liệu ông có trở thành người chiến thắng trong cuộc chiến do ông gây ra với người Persian hay không. Câu trả lời là như sau: “Croesus, đã vượt qua sông Hals, sẽ phát hủy một vương quốc rộng lớn.” Croesus đã giải thích điều đó có nghĩa rằng ông sẽ phá hủy vương quốc của kẻ thù nhưng thay vào đó ông lại phá hủy vương quốc của chính mình vì thất bại trong cuộc chiến với người Persian và trở thành tù nhân. Sau khi được phóng thích, ông phê phán những linh mục của Delphi khi đưa cho ông một dự báo sai lầm. Tuy nhiên, các linh mục vẫn cho rằng lời tiên tri là hoàn toàn chính xác về kết quả hành động của vị vua-nghĩa là, phá hủy một vương quốc rộng lớn- và Croesus đã sai lầm vì hiểu sai lời tiên tri! Đền thờ tiên tri Delphi phát triển thịnh vượng trong nhiều thế kỷ, bị cướp bóc vài lần và cuối cùng bị phá hủy bởi Theodosis Đại Đế của Người La Mã vào năm 394 sau công nguyên.

Do đó, chúng ta đã biết hình thức cổ xưa nhất của bói toán-nghĩa là bói về tương lai, nhằm dự báo các sự kiện tương lai-được thực hiện bởi khải huyền qua khả năng cảm giác được phát triển cao của người bói toán. Điều này là thực tế bất kể người bói toán là như thế nào: là phù thủy duy linh sử dụng quyền năng của linh hồn tự nhiên; là người lý giải giấc mơ giống như Gilgamesh, vua người Sume hoặc Joseph; là nhà tiên tri Do Thái được truyền cảm hứng bởi cơn sốt bói toán; là Phù thủy Endor đã triệu tập linh hồn của người chết; hoặc là các linh mục Hy Lạp thông qua các lời nói đáng giá bằng vàng.

Nhưng trong thế giới hiện đại, việc giải thích của hình thức bói toán này được gọi theo nhiều tên khác nhau: Người có khả năng nhìn thấy các sự kiện tương lai, ông đồng bà cốt, nhà huyền bí, người lên đồng, hoặc người duy linh. Tuy nhiên, lý giải giấc mơ không bao giờ chỉ là đặc quyền riêng của các nhà huyền bí, vì những người kế tục của Freud và Jung đã phát triển những hệ thống giải thích dựa trên quá trình quy nạp hợp lý.

Một trong những nhà huyền bí nổi tiếng người Mỹ là Edgar Cayce (1876-1944) ở Virginia Beach, Bang Virginia. Hàng ngàn trường hợp được chứng thực về khả năng chữa bệnh của ông trong khi ở trong tình trạng thôi miên tự cảm. Nhưng Cayce cũng có thể dự báo tương lai trong khi ở trong tình trạng thôi miên. Nhiều dự báo của ông đã trở thành hiện thực mặc dù một số dự báo khác vẫn đang còn chờ trong tương lai.

Những người có khả năng nhìn thấy tương lai nổi tiếng khác đang còn sống là hai người Hà Lan gồm Peter Hurkos và Gerard Croiser và một người Mỹ là Jeane Dixon. Người Hà Lan nổi tiếng với khả năng xử lý tội phạm trong khi người Mỹ nổi tiếng với tiên đoán về cái chết của tổng thống Kennedy. Năng lực dự đoán của những người này không phải là vĩnh viễn. Nó là luật huyền bí nổi tiếng mà những năng lực siêu linh hoặc năng lực ngoại cảm có khuynh hướng biến mất khi họ cố gắng sử dụng năng lực đặc biệt nhằm thu lợi cho cá nhân.

ĐIỀM BÁO TRƯỚC

Mặc dù những hình thức xa xưa của bói toán là của người Sume và người Babylon cổ đại thông qua việc lý giải giấc mơ nhưng hình thức phổ biến nhất là khám nghiệm gan-nghĩa là giải thích ý nghĩa của những điểm báo trong gan của con cừu vừa mới bị giết chết. Phương pháp này được phổ biến trong gần 3,000 năm và được sử dụng khi cần giải đáp những vấn đề chính sự lớn chẳng hạn như ngày hoặc kết quả của cuộc chiến tranh hoặc bạo loạn trong tương lai. Vùng  đồng bằng Lưỡng Hà cũng xuất hiện nghệ thuật đọc tương lai bằng ruột động vật mà mỗi thành phần có một tầm quan trọng dự báo riêng. Người La Mã thành lập nên Hội đồng thầy bói, trong đó Julius Caesar là người đứng đầu nhằm đưa ra những lời khuyên đối với những vấn đề chính sự quốc gia. Các bộ tộc cổ xưa của Borneo, Burma và Uganda vẫn dự báo tương lai bằng những điềm báo nhìn thấy trong gan động vật và chim.

Bói toán từ những điềm báo nhìn thấy bởi các nhà tiên tri trong gan động vật được thực hiện bởi nhà thờ Thiên Chúa được xem là một tín ngưỡng ngoại giáo, và khoa học duy vật có thể không tìm thấy bất cứ sự liên kết nguyên nhân thực sự giữa điềm báo và vật dùng dự báo. Nhưng có lẽ có một mối liên kết khi vào năm 1962, giáo sư Georgio Piccardi, giám đốc viện hóa học vật lý, đại học Florence, Italia, đã công bố hàng ngàn kết quả kiểm nghiệm của các nhà khoa học Nhật Bản, Đức và Italia qua hơn 20 năm cho thấy những bộ phận nội tạng và phi nội tạng chịu ảnh hưởng của các lực ngoài trái đất. Ông còn phát biểu rằng những bộ phận đang sống tương tác với các lực ngoài trái đất chính xác giống như các vật không sống vì cái được phản ứng là cấu trúc bên trong của vật sống và không sống. Do đó, các mẫu hình và điềm báo mà các nhà tiên tri người Babylon hoặc người La Mã nhìn thấy trong gan hoặc ruột động vật có thể được sinh ra bởi các lực bên ngoài trái đất. Từ  kinh nghiệm quá khứ, một số điềm báo nhất định được phân loại là khả thi trong khi những điềm báo khác được coi là không khả thi. Sau khi đạo cơ đốc trở thành tín ngưỡng quốc gia từ Đế Chế La Mã, bói toán đã bị cấm vào năm 392 sau công nguyên.

Tuy nhiên, việc bói toán từ “những điềm báo” vẫn được thực hiện ở thế giới phương tây và thậm chí, ngay cả ở phố Wall. Tuy nhiên, “những điềm báo” không đọc từ ruột của các động vật bị giết mà được động bằng cách mẫu hình hình thành bởi biểu đồ biến động trong giá chứng khoán và hàng hóa. Những mẫu hình này được gọi là đỉnh vòng cung (rounding tops), đỉnh kép, vai-đầu-vai, hoặc phá vỡ đường xu hướng tăng được xem là dự báo trước sự kết thúc của thị trường giá lên. Tương tự, mẫu hình đáy vòng cung, đáy kép, hoặc vai đầu vai đảo ngược hoặc sự phá vỡ đường xu hướng hướng giảm là kết thúc của thị trường con gấu. Những “điềm báo” mẫu hình khác là tam giác hướng lên hoặc tam giác hướng xuống, mẫu hình cờ và cờ đuôi nheo, mức chống đỡ và mức kháng cự. Những mẫu hình này được trình bày lần đầu tiên bởi R.W.Schabecker, nhà biên tập tài chính của tạp chí Forbes trong cuốn sách Lý thuyết và ứng dụng thị trường chứng khoán (1930). Các nhà đọc đồ thị phố Wall ở thế kỷ 20 đã rút ra kinh nghiệm rằng các mẫu hình đồ thị cho thấy một hình ảnh có ý nghĩa, vẫn chưa có ai nói rằng đây là sự mê tín. Xem hình 28 về các mẫu hình đồ thị phổ biến này.

Hình 28. Các mẫu hình hàng hóa và chứng khoán thông dụng

Tính hợp lý để sử dụng “điềm báo trước” nhìn thấy từ các mẫu hình đồ thị giá chứng khoán và hàng hóa được giải thích bởi William L.Jiler, trong Các biểu đồ có thể giúp chúng ta điều gì trong thị trường chứng khoán (1962) như sau: “Bây giờ không có bất cứ sự huyền bí hoặc trò ma thuật nào trong việc đọc đồ thị. Chứng khoán (và hàng hóa) tạo nên nhiều mẫu hình dựa trên cơ sở hợp lý là tâm lý con người- và đó là tâm lý xác định chuyển động của giá chứng khoán (hoặc hàng hóa). Ví dụ, khuynh hướng giá chứng khoán (hoặc hàng hóa) di chuyển theo đường thẳng không khó để giải thích. Theo ngôn ngữ vật lý, nó giống như định luật quán tính, nghĩa là một vật đang chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động theo hướng đó cho đến khi gặp phải một lực cản trở. Trong tâm lý con người, một nhà đầu tư sẽ tiếp tục trả giá cao hơn cho một chứng khoán so với mức giá mà người khác vừa mới trả gần đây-nghĩa là nó tiếp tục đi lên, và điều này sẽ mang lại cho anh ta niềm tin hoặc hy vọng giá sẽ tiếp tục đi lên. Ngược lại, một nhà đầu tư sẽ tiếp tục bán chứng khoán với giá thấp hơn mức giá mà nhà đầu tư khác vừa mới bán-nghĩa là giá sẽ tiếp tục sụt giảm và anh ta sẽ e ngại rằng giá còn giảm nữa.”

Phân tích đồ thị là nghiên cứu hành động thị trường nhưng nó là khoa học không chính xác và cần chiết khấu cho sự sai lệch. Đây là kỹ thuật được sử dụng bởi rất nhiều nhà đầu cơ, nhà phân tích thị trường hàng hóa  và những thành phần khác cần dự báo xu hướng giá. Mục đích của nó là đo lường sức mạnh tương đối của áp lực mua và bán. Nhưng đây không phải là con đường dễ dàng nhằm dự báo giá và không phải là chìa khóa duy nhất nhằm mở cánh cửa sự chính xác cao nhất. Do đó, bạn đọc có thể tránh những sai lầm vốn có của phương pháp đọc đồ thị. Các biểu đồ không thể bảo đảm luôn giành được chiến thắng như chúng có thể giúp bạn xác định khi nào thích hợp để mua và thích hợp để bán.

ĐIỀM BÁO TRƯỚC TỪ CHIÊM TINH

Khi người Babylon, dưới sự trị vì vua Sargon đại đế (2360 trước công nguyên) xâm chiếm người Sume, họ đã thay thế tôn giáo duy linh của người Sume bằng hệ thống thần học chiêm tinh của mình, và các linh mục người Babylon thay thế các pháp sư người Sume. Chiêm tinh học, với niềm rằng tương lai có thể được nhìn thấy qua các vì sao, mà hiện nay được tin tưởng bởi các nhà khoa học có nguồn gốc từ thời Babylon cách đây khoảng 3,000 năm trước công nguyên, và được truyền từ  người Át-xa-rít đến Ai Cập, từ Hy Lạp đến Rome ở phương Tây và người Ba Tư, Ấn Độ và Trung Quốc ở phương Đông.

Thực tế, một nhà bác học người Pháp, Paul Couderc đã khẳng định vào năm 1951 rằng dự báo chiêm tinh học được phát hiện ở Trung Quốc có vẻ như là một bản sao từ thư viện của Vua Ashurbanipa của người Át-xi-rít (669-693 trước công nguyên) tại Nineveh, Át-xi-rít (asyria). Nghiên cứu chính xác của thiên văn học và chiêm tinh học thời Babylon được ghi chép lại trong các phiến đất sét 70 gọi là “Thiếp vàng của Bel”, được phát hiện vào năm 1851-1853 bởi Henry Layard trong đóng đổ nát thư viện của Vua Ashurbanipal. Những phiến đất sét này được cho là bản sao các tài liệu của vua Sargon Đại Đế (2360 trước công nguyên) trong Thư viện đền thờ của Nippur tại Chaldeat vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, trong tàn tích phát hiện vào năm 1900 bởi giáo sư H.V.Hilprecht của đại học Pennysulvania trong chuyến thám hiểm thành Babylon.

A.H.Sayce, phó giáo sư của môn ngữ văn so sánh, Đại học Oxford, trong Tôn giáo của người Babylon cổ xưa (1887), tin tưởng vào nghiên cứu này, tức cho rằng thiên văn học được đóng góp bởi vua Sargon Đại Đế,  “không có nhiều luận án về thiên văn học, khi giả khoa học (Chiêm tinh học) đã phát triển vượt ra ngoài các quan sát thiên văn học. Người Babylon thực sự là cái nôi của các quan sát thiên văn học.”

Morris Jastrow, giáo sư ngôn ngữ Xê-mít, đai học Pennsylvania, trong Tôn giáo của người Babylon và Át-xa-rít (1898), xác nhận rằng: “Hệ thống hoàng đạo là một sản phẩm của khoa thiên văn học của người Babylon.” Ông tóm tắt như sau: “ Lý do đầu tiên trong phát triển của thiên văn học tại thung lũng Euphrate là niềm tin về chuyển động của các thiên thể trên bầu trời báo trước điều gì đó rất quan trọng mà con người cần phải biết. Các điềm báo xuất phát từ chuyển động và vị trí các hành tinh, các vì sao và điểm xuân phân. Các điềm báo này liên quan đến mưa, mùa màng, chiến tranh, tai họa, sự thịnh vượng của quốc gia, sức khỏe và hiểm họa của một vị vua. Danh sách các điềm báo được rút ra từ hiện tượng che khuất, từ các hành tinh và vì sao, và lịch dương, tất cả đều có nguồn gốc từ những quan sát các trường hợp ngẫu nhiên, từ kinh nghiệm quá khứ, và được rút ra bằng cách kết hợp nhiều phương pháp, bằng tư duy hợp lý và bằng mối quan hệ nhân quả.”

Giáo sư Giorgio Abetti, trong Lịch sử thiên văn học (năm 1952) cho biết: “Chiêm tinh học là mục tiêu chính của các nhà thiên văn Babylon. Họ có công lớn không dựa vào khả năng tưởng tượng thuần túy hoặc mánh khóe đơn giản như những người khác đã làm trong thời trung đại dựa vào các quan sát thiên văn có hệ thống và chính xác kéo dài qua nhiều năm. Các linh mục Ai Cập cũng quan tâm đến thiên văn học. Họ cố gắng giữ kín bí mật với công chúng về những học thuyết lớn và kết quả thu được từ việc quan sát mà sau đó được dùng để suy luận chiêm tinh.”

Giáo sư O.Neugebaur, trong Khoa học chính xác của người xưa (1952), viết: “Đối với lịch sử của nền văn minh, chiêm tinh học không chỉ là một trong hiện tượng quan trọng của thế giới văn hóa cổ Hy Lạp, mà là công cụ cực kỳ hữu ích cho các nghiên cứu chuyển giao tư tưởng văn hóa cổ Hy Lạp. So với nền tảng của tôn giáo, ma thuật và chủ nghĩ huyền bí, các học thuyết cơ bản về chiêm tinh hoàn toàn là khoa học thuần túy.”

Các linh mục người Babylon có niềm tin mãnh liệt các sự kiện là biến cố tự nhiên, được tạo ra và xác định bởi các biến cố tự nhiên khác, có thể quan sát được và cảnh báo từ một nhà quan sát đã qua huấn luyện. Họ giải thích bằng các ghi chép chính xác được lưu trữ về chuyển động của các hành tinh và các sự kiện trên trái đất xảy ra khi có các mẫu hình hành tinh nhất định, tương lai có thể dự đoán được một cách có lô gíc và chính xác hơn so với những phương pháp dự báo khác. Vì thế, những linh mục đã soạn ra các danh sách dài tất cả các hiện tượng có thể liên kết với các hành tinh và các vì sao được lưu ý và có ý nghĩa xác định. Khi số lượng quan sát càng lớn, khả năng phát hiện ra câu trả lời cho một vấn đề cụ thể càng lớn. Tương tự, giải thích hiện tượng được tìm thấy trong biến cố thực tế của các sự kiến nhất định tại các thời điểm nhất định khi các điều kiện này cho thấy thực tế có tồn tại. Do đó, không tổ chức quan trọng nào là không thể đảm nhận mà không có đánh giá đầu tiên về hiện tượng có thể được mong đợi vào ngày cố định cho bất cứ hành động nào, và hiện tượng này cho thấy điều gì.

Những dự báo cổ xưa nhất của người Babylon là về khí tượng học, nghĩa là, họ phải dự báo thời tiết như-mưa, bão, hạn hạn….Nhưng những người cầm quyền không chỉ quan tâm đến ảnh hưởng của thời tiết đến mùa màng mà còn với kết quả của những chiến dịch quân sự trong tương lai của họ và kế hoạch của kẻ thù. Vì thế, phạm vi của dự báo chiêm tinh học được mở rộng. Vì vậy, nếu một cuộc chiến với Elam được theo sau bởi một hiện tượng che khuất của mặt trời vào một ngày cụ thể, nó giả định rằng sự lặp lại của hiện tượng che khuất này vào ngày tương tự có thể sẽ được theo sau bởi một cuộc chiến với Elam. Do đó, đã tạo nên chiêm tinh học chính trị và chiêm tinh học trần thế. Nhưng giống như chúa trị vì các vị thần chịu tránh nhiệm đối với các công việc lớn của thế gian, các hành tinh và các vì sao, giống như biểu tượng của chúa, được xem như là điềm báo cho các nhà lãnh đạo hoặc nhà cầm quyền của đất nước-đại diện của vị thần trên Trái Đất-hơn là cho các tầng lớp dân cư, và cho một nhóm người nói chung hơn là một cá nhân giàu có. Điều này dẫn đến sự ra đời của chiêm tinh học tử vi. Nó đạt đến mức độ phát triển cao nhất dưới thời Hy Lạp và được truyền bá sang Phương Tây cho đến thế giới Ả rập.

Mặc dù linh mục người Babylon là bầy tôi trung thành của chúa, đã dùng kiến thức chiêm tinh nhằm dự báo tương lai, nhưng họ vẫn thẳng thắn thừa nhận những giới hạn của họ. Theo giáo sư George Rawlinson, trong Năm chế độ quân chủ vĩ đại –The Five Great Monarchies (1862), viết: “Đủ tò mò, có vẻ như người Babylon xem nghệ thuật chiêm tinh bị giới hạn bởi các vùng bị cấm do chính họ đặt ra đến nỗi mặc dù họ có thể dự báo chắc chắn cơn bão, giông tố, mất mùa và được mùa, chiến tranh, nạn đói, và những điều tương tự như người Syria, nhưng người Babylon, và người Susia không mạo hiểm dự báo về những vùng đất xung quanh như Persia, Media, Armenia.”

Tại sao lại như vậy? Câu trả lời là rất rõ ràng theo Thomas Brown, giáo sư triết lý đạo đức, của đại học Edinburgh, tại Edinburgh, Scotland, trong cuốn sách của ông, Mối liên hệ giữa nguyên nhân và hệ quả (1935): “Kinh nghiệm là điều cần thiết trong mọi trường hợp gặp phải niềm tin đáng ngờ về kết quả tương lai của hiện tượng; sau đó, kinh nghiệm về mối liên hệ nhân quả được mở rộng vượt ra ngoài thực tế cụ thể có thể quan sát nhưng không thể tìm ra lý do. Do đó, kinh nghiệm là điều cần thiết nhằm dự báo nội dung của hiện tượng. Kinh nghiệm, trong mọi trường hợp, cho phép chúng ta trở thành nhà tiên tri.”

Nhà chiêm tinh Babylon có thể chỉ dự báo trong những lĩnh vực mà họ có kinh nghiệm. Các nhà chiêm tinh hiện đại có thể ganh nhau thực hành trong lĩnh vực mà họ biết thay vì cố gắng “bao hết mọi lĩnh vực”. Cần phải nhớ rằng chiêm tinh học là một nghệ thuật thực nghiệm, và giống như Richard Lewinsohn nói trên Khoa học, tiên tri và dự báo (Science, Prophecy and prediction-1961), “Tất cả những cố gắng phi cảm hứng và phi cảm giác nhằm dự báo tương lai đều dựa trên kinh nghiệm, nghĩa là, trong quá khứ và với giả định rằng những nguyên nhân giống nhau sẽ có những tác động giống nhau.”

Sự xâm chiếm của Alexander Đại đế, đã thống trị Babylon vào năm 331 trước công nguyên, khiến cho các nhà chiêm tinh Babylon và Hy Lạp xích lại gần nhau hơn, linh mục người Babylon Berosus tìm thấy một trường nghiên cứu về chiêm tinh học định hướng và chiêm tinh học đối với quốc đảo Hy Lạp, trong số các trường y khoa nổi tiếng tạo nên ngài Hippocrate vĩ đại. Vì người Hy Lạp có khả năng toán học tốt hơn so với người Babylon họ nhanh chóng bỏ qua người thầy của họ, và nhà tử vi Hy Lạp đầu tiên xuất hiện vào khoảng năm 250 trước công nguyên. Nhà khoa học Hy Lạp Hipparchus ( khoảng năm 161 trước công nguyên), đã có đóng góp to lớn đối với sự chuyển hướng của thiên văn học trở thành một ngành khoa học chính xác bằng cách liệt kê danh mục các vì sao, cũng là một người tinh thông chiêm tinh học. Những kiến thức của ông đã giúp ích cho thế hệ sau như Ptolemy (khoảng năm 150 sau công nguyên) (người đã hệ thống hóa chiêm tinh cổ đại cho thế giới phương tây) và các nhà chiêm tinh Hy Lạp sau này.

Mặc dù chiêm tinh học có một cái gì đó là ngành nghề đầy sóng gió trong thời kỳ La Mã, nhưng nó cuối cùng trở thành môn khoa học chính thống của người La Mã, với một ngôi trường trong suốt thời kỳ trị vị của Alexander Severus Đại Đế ( năm 223-235 sau công nguyên), vị vua có nguồn gốc là người Phê-xi-ni. Sau khi Constantine đại đế tuyên bố giáo lý Cơ Đốc trở thành tín ngưỡng quốc gia của Đế Chế La Mã vào năm 325 sau công nguyên, Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo đã đặt dấu chấm hết cho tất cả các phương pháp bói toán ngoại trừ chiêm tinh học. Mặc dù nhà thờ không bao giờ đưa ra các bản án xét tội chính thức đối với chiêm tinh học nhưng nó xét xử sự mê tín theo chiêm tinh. Tài liệu thu thập lớn nhất về các bản thảo cổ xưa về chiêm tinh được lưu giữ tại Thư viên Vantican.

Chiêm tinh học vào thời đế chế La mã tuy vậy lại rơi vào suy thoái sau khi tồn tại qua nhiều thế kỷ vì sự xuất hiện của vô số các lang băm lừa gạt. Nhiều nhà chiêm tinh chính thống chuyển sang ở ẩn ở phía Đông khi người Persia bị xâm chiếm bởi người Ả Rập vào năm 651 sau công nguyên, chiêm tinh học phát triển rộng rãi trong thế giới Ả Rập. Do đó, nhà toán học thông thái Ả Rập, Albategnius (năm 850-929 sau công nguyên), người đầu tiên giới thiệu “các nhà” trong chiêm tinh học, đã xây dựng nên các biểu đồ mô tả quá trình dự báo tương lai cho một cá nhân. Hệ thống nhà của người Ả Rập cuối cùng trờ thành nền tảng cho dự đoán chiêm tinh Phương Tây.

Trong thời kỳ Trung Cổ, chiêm tinh học có được uy tín lớn ở Phương Tây khi các trường đại học về chiêm tinh học được hình thành ở Itaila và Pháp, và một số Giáo hoàng thậm chí đã sử dụng các nhà chiêm tinh cá nhân. Với sự phát triển của ngành khoa học toán vào thế kỷ 18 và 19, chiêm tinh học một lần nữa rơi vào suy thoái. Nhưng trong thế kỷ 20 đã chứng kiến sự hồi sinh ấn tượng của nghệ thuật cổ xưa này. Các khám phá cách mạng của các nhà khoa học nguyên tử đã đập vỡ nhiều giáo điều khoa học và tạo nền một môi trường khoa học công bằng để nghiên cứu về triết lý cổ xưa.

Trả lời