KHÓA HỌC NHỎ VỀ CHIÊM TINH (P.3): CÁC HÀNH TINH - Chiemtinhtaichinh.com

KHÓA HỌC NHỎ VỀ CHIÊM TINH (P.3): CÁC HÀNH TINH

Trong nghiên cứu chiêm tinh, có bốn yếu tố liên quan đến việc phân tích: các hành tinh (planets), các cung hoàng đạo (signs), các nhà (houses) trên biểu đồ tử vi và góc giữa các hành tinh (aspect). Các hành tinh là yếu tố quan trọng nhất khi nghiên cứu chiêm tinh học. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, các hành tinh thiết lập nên nhiều góc khác nhau; cũng có mối quan hệ giữa hành tinh với cung hoàng đạo và nhà trong biểu đồ tử vi. Nói cách khác, phân tích hành tinh, phải đặt trong bối cảnh các góc giữa các hành tinh và vị trí của các hành tinh tại các cung hoặc các nhà.

Chúng ta có thể mô tả vai trò của 4 yếu tố trên qua hình tượng sau : “Hành tinh là các diễn viên (câu hỏi: cái gì); Cung là đồng phục mà các diễn viên mang (câu hỏi: như thế nào?); Nhà là vở kịch (câu hỏi:ở đâu?) và các góc là lời thoại giữa các diễn viên”. Trong khi các hành tinh quay quanh mặt trời, mỗi hành tinh thể hiện những vai diễn khác nhau trong cuộc sống con người. Nhà hoặc cung đóng vai trò như sân khấu, nghĩa là các hành vi hoặc là các sự kiện mà con người phải đối mặt. Cung hoặc nhà chỉnh sửa các hoạt động của hành tinh. Chúng mô tả môi trường hoặc sân khâu cuộc sống mà các sự kiện xuất hiện.

Những nguyên tắc chiêm tinh cũng đúng trong lĩnh vực chiêm tinh tài chính.  Các hành tinh có thể chỉ ra hoạt động của cộng đồng tài chính, chẳng hạn như mua, bán, khối lượng thấp, khối lượng cao, biến động (volatility) hoặc vùng tắc nghẽn (congestion). Nhưng các cung hoàng đạo, mà trong đó các hành tinh xuất hiện, có khuynh hướng mô tả loại (sân khấu của cuộc sống) thị trường nào mà chắc chắn bị tác động. Ví dụ như trong thị trường chứng khoán, Mộc tinh (Jupiter), thể hiện sự lạm phát, phát triển, tăng trưởng. Bất cứ cung nào mà Mộc tinh đi qua, có thể làm hoặc là làm tăng giá các chứng khoán mà cung đó chi phối. Ngược lại cũng đúng với cung mà Thổ Tinh di chuyển qua. Các lĩnh vực được chia phối bởi cung này có thể bị sụt giảm mạnh và hàng hóa bị chi phối bởi cung này có thể có sự thắt chặt nguồn cung.

Trong phần 3, chúng ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của các hành tinh trong chiêm tinh học cũng như chiêm tinh tài chính. Đọc các phần sau các bạn sẽ thấy ý nghĩa trong chiêm tinh tài chính là vận dụng từ cơ sở chiêm tinh học.

CÁC HÀNH TINH

Trong bài học 1, tôi đã giới thiệu cho các bạn về 9 hành tinh trong hệ mặt trời và các Node của mặt trăng. Tôi có thể nhắc lại một lần nữa. Sau đây là thứ tự của các hành tinh xếp từ trong ra ngoài và ý nghĩa các hành tinh (chu kỳ tính theo quan điểm Nhật Tâm).

Sun: Là vị thần Apollo, Horus;

Moon: Là vị thần Diana, Isis. Chu kỳ 27.3 ngày

Mercury: Là vị thần Hermes, người đưa tin. Chu kỳ 88 ngày

Venus: Là vị thần Aphrodite, biểu tượng của tình yêu. Chu kỳ 224.5 ngày

Mars: Là vị thần Ares, chúa tể của chiến tranh. Chu kỳ 687 ngày (22 tháng).

Jupiter: Là Thần Dớt. Chu kỳ 12 năm

Lunar Nodes: 18.6 năm

Saturn: Chính là quỷ Satan trong kinh Thánh. Chu kỳ 29.5 năm

Uranus: Là chúa tể các vì sao. Chu kỳ 84 năm.

Neptune: Là vị thần Poseidon, chúa tể của  biển cả. Chu kỳ 165 năm

Pluto: Là vị thần cai quản địa ngục. Chu kỳ 248 năm.

Các hành tinh có ý nghĩa như thế nào trong chiêm tinh tài chính? Để hiểu nó, chúng ta hãy cùng xem chiều dài chu kỳ, và thể hiện những chu kỳ này như thế nào được tìm thấy trong các khía cạnh khác nhau của đời sống con người (thực tại). Có hai loại chu kỳ thời gian mà chúng ta có thể bàn luận. Đầu tiên là nhật tâm, tức chiều dài của hành tinh quanh mặt trời hay khi nhìn từ mặt trời . Loại thứ hai là địa tâm, tức chu kỳ của hành tinh khi nhìn từ trái đất. Đối với những hành tinh bên trong quỹ đạo trái đất (thủy tinh và Kim Tinh), sự khác nhau giữa hai chu kỳ này là khá lớn. Tức là vị trí hành tinh theo quan sát Nhật Tâm sẽ khác xa khi quan sát theo Địa Tâm. Tuy nhiên, đối với những hành tinh khác, tức các hành tinh nằm bên ngoài quỹ đạo trái đất, sự khác biệt trong chiều dài chu kỳ là không đáng kể. Tức vị trí hành tinh theo Nhật Tâm và Địa Tâm không khác biệt nhiều.

Trong chiêm tinh, mỗi hành tinh, mỗi cung hoặc nhà có một thuộc tính riêng. Các thuộc tính này được mô tả bởi các từ khóa (keyword) và trong đó có một từ khóa chính. Học chiêm tinh đòi hỏi chúng ta phải nhớ mỗi keyword cho mỗi yếu tố.

MẶT TRỜI

Hãy bắt đầu từ mặt trời. Mặt trời không phải là một hành tinh mà “thể sáng” và là đối tượng quan sát quan trọng nhất vì mặt trời mang lại sự sống cho trái đất. Khi nhìn từ Trái Đất, Mặt trời có vẻ di chuyển 360 độ mỗi năm. Do đó, nó là “một chu kỳ hàng năm” (một chu kỳ quỹ đạo mỗi năm). Trong thực tế, đó là trái đất hoàn tất một vòng di chuyển quanh mặt trời mỗi năm. Chu kỳ hoàn tất của mặt trời do đó là 1 năm, và chu kỳ của nó trong mỗi cung là xấp xĩ 30 ngày. Keyword chính của mặt trời là sự sống (our vitality). Các thuộc tính của mặt trời là cá tính (personality); Năng lượng (energy); nội tâm (inner self); người cha (father); khả năng nhân thức (conscious aim); sự soi sáng (illumination).

Trong đời sống của con người, có một số chu kỳ được tìm thấy bằng với chu kỳ của mặt trời như: Chu kỳ 11.1-13.9 tháng của chỉ số ngành công nghiệp (Dewey, 1952; Merriman, 1988); hoặc chu kỳ 1 năm của Sức mua gia cầm (Pearson & Myers, 1944). Ngoài ra, có một số chu kỳ khác trong hoạt động của con người bằng với thời gian gia nhập cung (28-31 ngày) như: chu kỳ 28 ngày của Giá chứng khoán (Seager, 1962); hoặc chu kỳ 34 ngày của giá đường nguyên liệu (Dewey & Dakin, 1947).

MẶT TRĂNG

Chúng ta đã có một bài nghiên cứu khá kỹ về mặt trăng (“Mặt trăng và các hiện tượng che khuất”) nên tôi không lặp lại ở đây. Trong đời sống của con người có thể tìm thấy một số chu kỳ bằng chu kỳ mặt trăng như: chu  kỳ 28 ngày của giá chứng khoán (Seager, 1962); chu kỳ 29.5 ngày đối với sự ra đời của các đứa trẻ (Jackson, 1939-1945); hoặc chu kỳ 29.6 ngày của hoạt động động đất trên toàn thế giới (Davidson, 1940).

THỦY TINH

Chu kỳ của thủy tinh quanh mặt trời (nhật tâm) là 88 ngày, hoặc 12.6 tuần. Nó mất khoảng 5-11 ngày nằm trong một cung (nhật tâm) và xấp xỉ 19 ngày trong một cung theo địa tâm, khi nó không ở trạng thái tĩnh vì chuyển động nghịch hành. Keyword của Thủy Tinh là: Trí tuệ (Intellect). Thuộc tính của Thủy Tinh là giao tiếp (communication); Vận Tải (Transportation); Truyền Thông (Media); Thương Mại (Trade); Anh chị em ruột (sibling); các chuyến du lịch ngắn (short trips) và khả năng tư duy hợp lý (reasoning ability).

Trong chiêm tinh, Thủy Tinh thể hiện cho sự liên lạc nhưng trong ngôn ngữ kinh doanh, thủy tinh liên quan đến vấn đề thương mại, hành động mua hoặc bán. Khi Thủy Tinh được nổi bật lên do thiết lập góc với các hành tinh khác, có một sự gia tăng trong bên mua và bên bán (khối lượng), theo hành tinh đang được thiết lập góc hoặc cung mà Thủy Tinh đang nằm. Thủy Tinh cũng là hành tinh đại diện cho “tinh thần” vì thế Thủy Tinh có thể mô tả những quan tâm về mặt tinh thần của thị trường vào bất cứ ngày nào, hoặc trong khoảng thời gian mà Thủy Tinh dịch chuyển qua mỗi cung cụ thể.

Trong đời sống con người, có một số chu kỳ gần với chu kỳ của Thủy Tinh như: chu kỳ 12.31 tuần của giá cổ phiếu của General Motors (Shirk, 1962) hoặc chu kỳ 12.94 tuần của chỉ số ngành công nghiệp (Dewey, 1951).

Giai đoạn 5-11 ngày là thời gian mà Thủy Tinh di chuyển từ cung này sang cung khác dưới góc nhìn Nhật Tâm, được xem là trùng với sự thay đổi xu hướng ngắn hạn của nhiều thị trường hàng hóa (chẳng hạn như ngũ cốc) theo nghiên cứu độc lập của Jeanne Long.

KIM TINH

Kim Tinh có chu kỳ 225 ngày, hoặc 32.3 tuần, trong quỹ đạo của hành tinh quanh mặt trời. Nó mất trung bình khoảng 18-19 ngày ở mỗi cung theo Nhật Tâm, và khoảng 24-26 ngày ở mỗi cung theo Địa Tâm, khi nó không tĩnh vì nó chuyển động nghịch hành. Keyword chính của Kim Tinh là tình cảm (affection). Các thuộc tính của Kim Tinh là: Tình yêu (Love); Giá trị (value); sắc đẹp (beauty); Nghệ thuật và văn hóa (art and culture); sự sang trọng (luxury); sở hửu (possesions) và tài chính (finance).

Trong chiêm tinh, Kim Tinh thể hiện cho tình yêu và sự lãng mạn. Trong chiêm tinh tài chính, Kim Tinh được cho là chi phối “giá trị”. Ví dụ như Kim Tinh có ảnh hưởng đến giá trị đồng tiền của mỗi quốc gia hoặc giá trị của thị trường chứng khoán. Kim Tinh gắn liền với các vấn đề tiền bạc và các hợp đồng. Khi Kim Tinh được làm nổi bật bởi các góc, giá trị lớn hơn được đặt phụ thuộc vào những vấn đề chi phối bởi các cung khác trong góc. Cụ thể, Kim tinh được cho là chi phối giá Đồng và Giá Đường. Trong chứng khoán, Kim Tinh chi phối ngành mỹ phầm và chăm sóc sắc đẹp.

Trong đời sống của con người, có một số chu kỳ được xác định là gần với sự lặp lại của Kim Tinh như: chu kỳ 32 Tuần của giá cổ phiếu Electric Westinghouse  (Shirk, 1961), hoặc chu kỳ 32.25 tuần của chỉ số ngành công nghiệp (Dewey, 1952, Blackett và Wilson, 1936-1938).

Kim Tinh mất khoảng 3 tuần để di chuyển từ cung này sang cung khác theo chiêm tinh nhật tâm. Walter Bressert đã xác định chu kỳ giao dịch 3 tuần (đáy tới đáy) trong nhiều hàng hóa kim loại. Jeanne Long đề nghị rằng giá chứng khoán trong nhiều thị trường tài chính đảo ngược vào ngày Venus gia nhập cung, theo Nhật tâm.

HỎA TINH

Hỏa tinh là hành tinh đầu tiên nằm ngoài quỹ đạo trái đất và vì vậy nó thể hiện cho các yếu tố bên ngoài con người (các hành tinh bên trong trái đất thể hiện yếu tố bên trong con người). Hỏa Tinh mất 687 ngày, hoặc 98 tuần, hoặc 23 tháng để hoàn tất quỹ đạo với mặt trời. Nó mất khoảng xấp xỉ 43 ngày (6 tuần) trong một cung đia tậm, ngoại trừ khi nó ở trạng thái tĩnh.  Keyword của Hỏa Tinh là: Hành đồng(action). Thuộc tính tự nhiên của Sao hỏa chiến tranh (war); sự khao khát (desire); tình dục (sexual energies); sự khuyến khích (courage); phẩu thuật (surgery and operations); tai nạn (accidents); sắt thép (iron and steel); bản năng động vật (animal nature); sáng kiến (initiative).

Trong chiêm tinh, Hỏa tinh là chúa tể của chiến tranh. Hỏa Tinh thường nổi bật trong những ngày mà ở đó có sự gia tăng trong các căng thẳng quốc tế, có lẽ thậm chí là đe dọa chiến tranh. Trên thị trường tài chính, khối lượng thường có khuynh hướng gia tăng khi Hỏa Tinh hiện diện, và nó có những biến động giá mạnh. Hỏa Tinh chi phối ngành thép, chứng khoán quốc phòng và thịt (trên thị trường hàng hóa).

Trong đời sống con người, có các chu kỳ gần với chu kỳ thời gian của Hỏa Tinh như: chu kỳ 23 tháng của chỉ số ngành công nghiệp (Dewey, 1952); của sản xuất dệt may (Peterson, Myers, Brandow, 1939); của Sản xuất Cotton (Bassie 58); của giá hàng hóa bán sĩ (Frickey,35); của sản xuất hàng hóa khá bền (Semi-durable goods production) (Newbury, 1952).

Hỏa Tinh mất khoảng 43 ngày (6 tuần) để di chuyển mỗi cung trong hoàng đạo theo địa tâm. Một chu kỳ 6 tuần cũng được xác định bởi Bressert và Raymond Merriman trên nhiều hàng hóa và trong giá chứng khoán, ngũ cốc, lúa mỳ, giá đậu nành theo Merriman.

MỘC TINH

Mộc tinh là hành tinh lớn nhất trong thái dương hệ của chúng ta. Mộc Tinh xoay quanh mặt trời khoảng 12 năm để hoàn tất một vòng (thực tế là 11.9 năm). Mộc Tinh mất khoảng 11-13 tháng để di chuyển qua một cung, vì thế chu kỳ “gia nhập cung” của Mộc Tinh gần bằng với chu kỳ hằng năm của Mặt trời. Keyword của Mộc Tinh là Mở rộng (expansion). Thuộc tính tự nhiên của Mộc Tinh là sự giàu có (wealth); các hoạt động kinh doanh lớn (big business); những suy nghĩ lớn (The higher mind); các chuyến du lịch dài (long-distance travel); tình yêu của động vật (love of animals); Cơ hội (Opportunity); Tín ngưỡng/Triết lý (philosophy/religion/spirituality); Luật và sự thám hiểm (adventure).  Điều đầu tiên khi nghĩ về Mộc Tinh là sự thuận lợi. Mộc Tinh là sự hóa giải cho Thổ Tinh, đưa đến cho chúng ta những gợi ý để vượt qua các khó khăn trong cuộc sống.

Trong chiêm tinh tài chính, vì tính chất phóng đại, nên Mộc Tinh thể hiện cho cảm giác lạc quan và phởn phơ của nhà đầu tư. Nói cách khác, Mộc Tinh mang lại sự tăng giá đối với thị trường tài chính. Trong những ngày khi Mộc Tinh thiết lập góc với các hành tinh khác, giá của các chứng khoán và hàng hóa nhất định có khuynh hướng tăng giá.

Trong đời sống con người, có những chu kỳ trùng với quỹ đạo của Mộc Tinh quanh mặt trời như chu kỳ suy thoái 11.67 năm (Langham, 1954); chu kỳ 12 năm của chỉ số ngành công nghiệp (Dewey, 1951, 1954, và Szatrowski,1948), hoặc chu kỳ giá lúa mỳ (Beveridge, 1927), chu kỳ giá chứng khoán thuốc lá (Wilson, 1962).

THỔ TINH

Thổ tinh là hành tinh cuối cùng được nhìn thấy rõ trong thái dương hệ. Chu kỳ của Thổ Tinh quay quanh mặt trời là 29.5 năm. Thổ Tinh mất khoảng 2 ½ năm để đi qua một cung. Keyword chính của Thổ Tinh là Kỷ luật (discipline). Thuộc tính của Thổ Tinh là: người Thầy (teacher), sự giới hạn (limitations); nỗi buồn (sorrows), sự trì hoãn (delays), trách nhiệm (responsibility); sự thông thái (wisdom);cấu trúc (Structure); Truyền Thống (Tradition); người già (older persons). Khi nghĩ về Thổ Tinh, điều đầu tiên nên nhớ là nó thể hiện sự khó khăn, cản trở trong đời sống con người.

Trong chiêm tinh tài chính, tính chất tự nhiên của Thổ Tinh là “thu hẹp” và “làm suy giảm”, trái ngược với Mộc Tinh. Cách đơn giản nhất để nhớ là nghĩ về Mộc Tinh như Dương và Thổ Tinh như là Âm. Khi Thổ Tinh được làm nổi bật, những chứng khoán và hàng hóa được chi phối bởi cung mà Thổ Tinh ở đó hoặc là có khuynh hướng giảm giá hoặc là nguồn cung trở nên cạn kiệt. Khi Thổ Tinh được làm nổi bật bởi góc trong bất kỳ ngày nào, các chứng khoán và hàng hóa nhất định có thể đạt tới đáy. Thông thường, khối lượng thấp trong những ngày này khi các nhà đầu tư có khuynh hướng được chi phối bởi nổi sợ (Thổ Tinh) hơn là lòng tham (Mộc Tinh).

Trong đời sống con người, có những chu kỳ sau gần với các chu kỳ chuyển động của Thổ Tinh là chu kỳ 29.7 năm của Nạn đói (Nakame, Nhật Bản, 1957); chu kỳ 30 năm của chỉ số ngành công nghiệp (Dewey,51); chu kỳ xây dựng nhà dân cư (Caincross,1934).

Thổ tinh mất khoảng 2.4 năm hoặc 27-30 tháng để di chuyển qua mỗi cung hoàng đao. Nhiều chu kỳ 27-30 tháng trong chu kỳ hoạt động con người như chu kỳ 27 tháng của Giá vàng (Merriman, 1982); chu kỳ giá cổ phiếu ngành khai khoáng vàng của Canada (Dewey,1954); chu kỳ 27.6 tháng của giá cổ phiếu ngành đồng (Shirk, 1961); chu kỳ 29.2 tháng của Giá Đồng (Dewey,1953); chu kỳ 29.28 tháng: của chỉ số ngành công nghiệp (Dewey,1951); chu kỳ 30 tháng của giá trứng (Funk,1931).

THIÊN VƯƠNG TINH

Thiên vương tinh là một trong những hành tinh mới được phát hiện, và giống như các hành tinh khác, Thiên Vương Tinh không thể nhìn thấy bằng mắt thường khi nhìn từ Trái Đất. Chu kỳ của Thiên Vương Tinh quanh mặt trời là 84 năm. Nó mất khoảng 7 năm để di chuyển qua mỗi cung hoàng đạo. Keyword chính của Thiên Vương Tinh là Nhận Thức (Awakening). Các thuộc tính của Thiên Vương Tinh là sự thay đổi (changes); Cuộc cách mạng/nổi loạn (Revolution/Rebellion); lập dị (eccentric); Phá vỡ nguyên trạng (breaking the status quo); Tự do, sáng tạo (inventions); thuyết vị lai (futuristic); công nghệ (technology); những điều không kỳ vọng (unexpected). Hãy nghĩ Uranus như một kẻ đổi mới, khó lường và tự do phóng khoáng. Hắn ta luôn có những cách làm mới và không theo truyền thống, một kẻ nổi loạn.

Trong chiêm tinh tài chính, tính chất tự nhiên của Thiên Vương Tinh là ngạc nhiên, phá vỡ, và đưa ra những điều không như kỳ vọng. Những chuyển động nhanh và không như kỳ vọng sẽ xuất hiện trên thị trường tài chính khi Thiên Vương Tinh được kích hoạt bởi góc. Giá di chuyển nhanh nhưng không kéo dài lâu. Thực sự, nó có thể và trùng với hành vi được coi là “bẫy”, nghĩa là giá di chuyển nhanh theo cả hai hướng, và thay đổi hướng rất nhanh rất đột ngột, thậm chí là trong một ngày. Các mức hỗ trợ và kháng cự có thể dễ dàng bị xuyên thủng trong những ngày mà Thiên Vương trở nên nổi bật.

Trong đời sống con người, có những chu kỳ liên quan đến chu kỳ của Thiên Vương Tinh như chu kỳ 84 năm của giá lúa mỳ (Appel,1950); chu kỳ giá hàng hóa bán sĩ (Appel,1950).  Có nhiều chu kỳ tương ứng với khoảng thời gian 7 năm mà Thiên Vương Tinh đi qua mỗi cung như chu kỳ 7 năm của suy thoái kinh tế (Mitchell, 1927; Merriman,1994); chu kỳ Giá bơ (USDA Niêm giám nông nghiệp, 1930); chu kỳ hoạt động thương mai (Jevons, 1909). Chu kỳ 7 năm là rất nổi tiếng vì đây là con số được nhắc đến trong kinh thánh: “Sau 7 năm thịnh vượng là 7 năm đói kém”. Con số 7 gọi là con số định mệnh (fatal).

HẢI VƯƠNG TINH

Hải vương tinh là hành tinh xa thứ hai. Hải Vương Tinh xoay quanh mặt trời trong 164.8 năm, và nó mất khoảng 14 năm để đi qua mỗi cung. Keyword của Neptune là Trực Giác (Intuition). Các thuộc tính tự nhiên là sự thần bí (mysticism); những giấc mơ (dreams); ảo giác (Illusions và fantasy); âm nhạc và phim ảnh, các vấn đề thuộc về biển cả; sự lừa dối (deceptions); sự nhạy cảm trong tâm linh (psychic sensitives); thuốc (drugs); không giới hạn (no boundaries). Hình ảnh khi nghĩ về Neptune là một giọt nước ảo giác lấp lánh trên mặt nước, không thực, mơ hồ.

Trong chiêm tinh tài chính, Hải Vương Tinh được coi là đại diện cho tin đồn và những ảo giác, hy vọng và ước muốn mà không dựa trên thực tế. Khi Hải Vương Tinh được làm nổi bật, các trader có thể dựa vào những vấn đề “sai lầm” hoặc dựa vào những tin đồn mà không có thực trong tương lai để hành động. Đối với nhiều người, thật khó để đưa ra một quyết định khách quan khi Hải Vương Tinh được làm nổi bật bởi góc. Không phải tất cả các sự thật là hiện tại, và có những sự thật có thể là không chính xác. Hải Vương Tinh cũng chi phối dầu thô và cũng chi phối mưa và sương, là yếu tố tác động lên giá lương thực.

Trong đời sống con người, có những chu kỳ gần tương đương với chu kỳ 14 năm qua mỗi cung của Hải Vương Tinh như: chu kỳ 14 năm trong hoạt động sản xuất gia súc (Zimmerman,1951); chu kỳ chỉ số ngành công nghiệp (Woods, 1946).

Cũng nên lưu ý rằng Hải Vương Tinh di chuyển qua các cung “Đất” trong mỗi 54 năm. Trong cuối sách “The Sign of The Times” (Llwellyn, St.Paul, MN, 1984), Stan Barker chỉ ra rằng sự sụp đổ của nền kinh tế (suy thoái) trong khoảng thời gian này. Có lẽ, chu kỳ này được nổi tiếng với các cái tên như “Chu kỳ Kondratiesff” hoặc chu kỳ “K-wave”.

DIÊM VƯƠNG TINH

Diêm vương tinh là hành tinh cuối cùng được biết đến trong thái dương hệ. Diêm vương tinh có quỹ đạo bất thường và mất 248.4 năm để hoàn tất vòng xoay quanh mặt trời. Tuy nhiên, diêm vương tinh có thể mất từ 14-26 năm để đi qua mõi năm. Khi nó đi qua cung Bọ cạp và cung Nhân Mã (1982-2009), Diêm vương tinh chỉ mất khoảng 14 năm. Trong chiêm tinh, Keyword của Pluto là sự biến đổi (Transformation). Các thuộc tính là sức mạnh (power); sự ám ảnh (obsessions); sự điều tra (investigatin); cái chết và hồi sinh; thế giới ngầm (the underworld); bí mật (secrecy); niềm sâu kín (The occult); tàn phá (waste); sự mục nát, thối rữa (corruption). Hình ảnh khi nghĩ về Pluto là người cải cách mạnh mẽ, phá cũ những cái cũ lạc hậu để thay đổi. 

Trong chiêm tinh tài chính, tính chất tự nhiên của Diêm Vương Tinh là mối đe dọa sự tổn hại hoặc phá hoại, thông qua tự nhiên hoặc do con người. Diêm Vương Tinh cũng là sự bùng nổ. Khi Diêm Vương Tinh được làm nổi bật bởi góc, nhiều thị trường có thể đảo ngược và bắt đầu một xu hướng tăng dài hạn. Diêm vương tinh kết thúc xu hướng cũ và bắt đầu một xu hướng mới. Thỉnh thoảng, diêm vương tinh liên quan đến sự phá vỡ của các mức hỗ trợ hoặc kháng cự dài hạn, nếu thị trường đang ở gần thời điểm có xuất hiện góc với Diêm Vương Tinh. Trong chiêm tinh tài chính, Diêm Vương Tinh thể hiện cho 3D: Debt(nợ); default(vỡ nợ) và Deficit(thâm hụt). Diêm Vương Tinh thể hiện các vấn đề liên quan đến chính phủ và ngân hàng.

Trong đời sống con người, có một số chu kỳ xấp xỉ với chu kỳ của Diêm Vương Tinh như chu kỳ nạn đói trong 242 năm (Grassman,1957).

NODE PHÍA BẮC CỦA MẶT TRĂNG

Chu kỳ Node của mặt trăng kéo dài 18.73 năm. Nó mất khoảng 18-19 tháng để đi quan một cung trong hành trình đi qua các cung hoàng đạo. Trong phần trước, chúng ta đã biết North Node là mắt rồng, thể hiện cho yếu tố tích cực. Nhưng trong chiêm tinh tài chính, ý nghĩa của Node vẫn chưa rõ ràng và có nhiều điều chưa được xác định. Tuy nhiên, có nhiều chu kỳ trong hoạt động của con người gần với chu kỳ Node của mặt trăng hơn bất cứ chu kỳ nào được trình bày ở trên. Một số chu kỳ đó như sau: chu kỳ 18-18.7 năm của Hoạt động xây dựng nhà theo đầu người (King, 1938); chu kỳ hoạt động xây dựng nhà  (Buliding activity) và xây dựng (construction) (Daniels, 1935, Dauten, 1954);  chu kỳ giấy phép xây dựng nhà trên đầu người (Riggelman, 1935); chu kỳ giấy phép xây dựng mới (Burns và Mitchell, 1946); chu kỳ hoạt động bất động sản (Hoyt, 1933); chu kỳ tín dụng ngân hàng (Warren và Pierson, 1937); chu kỳ chỉ số ngành công nghiệp (Tripp, 1948, Merriman, 1987); chu kỳ các đợt khủng hoảng (Warren và Pierson, 1937); chu kỳ giá bạc (Merriman, 1991).

TÓM LƯỢC ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HÀNH TINH ĐẾN CÁC LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN

Sun (Mặt trời): chi phối ngành kim loại (precious metals).

Moon (mặt trăng): chi phối ngành y tế (health Care), sản phẩm tiêu dùng gia đình (household products), nhà hàng.

Mercury(Thủy Tinh): chi phối ngành viễn thông, truyền hình và vận tải.

Venus (Kim Tinh): chi phối ngành trang sức (apparel), mỹ phẩm, giải trí và bán lẻ.

Mars (Hỏa Tinh): chi phối ngành thể thao, thép, quốc phòng, ngành máy móc công nghiệp.

Jupiter (Mộc Tinh): chi phối ngành ngân hàng, môi giới và dịch vụ tài chính.

Saturn (Thổ Tinh): chi phối ngành nông nghiệp, bất động sản.

Uranus (Thiên Vương Tinh): chi phối ngành chiêm tinh, máy tính, công nghệ và không gian vũ trụ.

Neptune (Hải Vương Tinh): chi phối ngành hóa học, ngành kinh doanh giải trí, quảng cáo ,bia rượu, thuốc lá, và các hoạt động liên quan đến biển như ngành khoan, gas, dầu,

Pluto (Diêm Vương Tinh): chi phối ngành tài chính (như vấn đề nợ, bảo hiểm, sát nhập), công nghệ sinh học.

CHUYỂN ĐỘNG NGHỊCH HÀNH  (RETROGRADE) VÀ THUẬN HÀNH (DIRECT)

Khi tất cả các hành tinh di chuyển quanh mặt trời theo hướng ngược kim đồng hồ dưới góc nhìn nhật tâm, chúng không bao giờ chuyển động nghịch hành (chuyển đông ngược lại phía sau).

Tuy nhiên, khi nhìn từ quan điểm địa tâm, sự chuyển động của các hành tinh và của trái đất có thể gây nên ảo ảnh thị giác và các hành tinh có thể đi vào chuyển động tĩnh và chuyển động ngược lại (gọi là chuyển động nghịch hành). Mặt trời và mặt trăng không bao giờ chuyển động nghịch hành khi nhìn từ trái đất.

Để hiểu về chuyển động nghịch hành, chúng ta xem ví dụ của một người ngồi trên tàu lửa. “Nếu bạn đang ngồi trên một đoàn tàu cùng hướng với đoàn tàu khác trên đường sắt, bạn có thể nhìn thấy đoàn toàn khác đang chuyển đọng ngược lại phía sau. Tuy nhiên, bạn không biết nếu đoàn tàu đó đang chuyển động ngược lại hay bạn đang chuyển động tới. Theo cách tương tự, chuyển động giữa trái đất và các hành tinh chị em của nó làm chúng ta có vẻ như đang thấy rằng các hành tinh khác thỉnh thoảng đang chuyển động ngược lại trên cung hoàng đạo. Thực tế, tất cả các hành tinh đều đang di chuyển trên cung hoàng đạo cùng theo hướng kim đồng hồ”. Khi tất cả các hành tinh chuyển động quanh mặt trời với các vận tốc khác nhau, hành tinh chuyển động nhanh sẽ bắt kịp hành tinh chuyển động chậm tạo ra ảo ảnh thị giác.

Trong phần kinh độ của lịch thiên văn địa tâm bạn sẽ phát hiện thấy các hành tinh có chữ “R” bên phải độ của hành tinh đó. Ký hiệu này có nghĩa là Retrograde (chuyển động nghịch hành) và đang di chuyển ngược lại. Một hành tinh được nói là đang ở trạng thái tĩnh (stationary) khi nó không chuyển động thuận hành (direct) cũng không chuyển động nghịch hành (retrograde). Chiều dài của thời gian chuyển động tĩnh khác nhau tùy theo mỗi hành tinh. Một chữ “D” phía đằng sau độ của hành tinh trong phần kinh độ (Longitude section) cho thấy rằng hành tinh đó đang chuyển động về phía trước.

Trong lịch thiên văn, khi nhìn vào phần góc ‘Aspectarian section”, bạn sẽ phát hiện ra rằng chuyển động thuận hành được chỉ ra bởi “SD” và chuyển động nghịch hành ký hiệu là “SR”. SD có nghĩa là một hành tinh đang từ trạng thái tĩnh và dự kiến sẽ chuyển sang chuyển động thuận hành. Tương tự, SR là một hành tinh đang ở trạng thái tĩnh và chuyển sang nghịch hành.

Thời gian mà một hành tinh đang chuyển động nghịch hành hay thuận hành tùy thuộc vào quỹ đạo và vận tốc của hành tinh đó.  Mercury nghịch hành trong 24 ngày và xảy ra 3 lần trong một năm; Venus chuyển động nghịch hành trong 42 ngày; Mars chuyển động nghịch hành trong 80 ngày; Jupiter nghịch hành 80 ngày; Saturn nghịch hành trong 140 ngày; Uranus nghịch hành trong 150 ngày; Neptune nghịch hành trong 160 ngày; Pluto nghịch hành trong 160 ngày.

Mặc dù mặt trăng không bao giờ chuyển động nghịch hành nhưng bạn có thể thấy các node của mặt trăng cũng chuyển động ngịch hành. Bạn cũng nên thận trọng về kết luận của cột Mean Node  trong một số lịch thiên văn và thực tế rằng nó luôn chuyển động nghịch hành. Khi Node chuyển động nghịch hành nó đi theo chiều kim đồng hồ quanh hoàng đạo và cột tích lũy sẽ giảm dần. Vì thời gian chuyển động nghịch hành trung bình của Node là khoảng 3 phút mỗi ngày nó phải mất thời gian nhiều hơn để chuyển động nghịch hành hơn là chuyển động thuận hành. Nó mất 18 ½ năm để Node hoàn tất một vòng chu kỳ quanh hoàng đạo.

Trong chiêm tinh tài chính, chuyển động thuận hành và nghịch hành của các hành tinh trùng với điểm đảo chiều của một số thị trường.

Tài liệu tham khảo:

  1. “Astrology for Gann Trader” của Olga Morales
  2. “Basis Principles of Geocosmic Studies for Financial Market Tining” của Raymond Merriman.
  3. “Practical Astro A guide to profitable Trading” của  Dr.Ruth Miller và Ian Williams (1993).
  4. “How to learn Astrology” của Michael Erlewine,2006.

(Còn tiếp  PHẦN 4).

Xem lại phần 3

Phần 2: MẶT TRĂNG VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG CHE KHUẤT

Trả lời