Cho phép dùng Nhân dân tệ để thanh toán ở biên giới Việt - Trung có khiến Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc không? - Chiemtinhtaichinh.com

Cho phép dùng Nhân dân tệ để thanh toán ở biên giới Việt – Trung có khiến Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc không?

Trích từ Facebook Tiến Sĩ Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Tóm tắt Dành cho ai lười đọc cả bài dài, ý chính là: Cho phép thanh toán chính thức và trực tiếp bằng NDT ở các vùng biên giới giáp với Trung Quốc là chính thức mở ra một cánh cổng để đồng NDT dần dần len lỏi vào nền kinh tế Việt Nam, làm gia tăng sâu sắc hơn nữa sự lệ thuộc của kinh tế Việt Nam vào Trung Quốc. Đừng vì một chút lợi ích nhỏ trước mắt mà đánh đổi rủi ro của đất nước trong dài hạn! 

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới đây đã ban hành Thông tư số 19/2018/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Theo đó, thương nhân, cư dân biên giới Việt Nam – Trung Quốc có hoạt động thương mại biên giới giữa 2 nước có thể dùng VND hoặc Nhân Dân Tệ trong mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụ.

Thưa ông, việc NHNN cho phép thương nhân, cư dân biên giới Việt Nam-Trung Quốc có hoạt động thương mại biên giới giữa 2 nước có thể dùng VND hoặc Nhân Dân Tệ (NDT) trong mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụ sẽ tác động thế nào tới hoạt động quản lý ngoại hối?

Thứ nhất, về câu chuyện quản lý ngoại hối, việc cho phép thương nhân, cư dân sống ở biên giới Việt Nam-Trung Quốc có hoạt động thương mại giữa 2 nước có thể dùng VND hoặc NDT để thanh toán trực tiếp trong mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụ sẽ làm phức tạp thêm việc quản lý ngoại hối.

Bởi trước đây, Pháp luật về quản lý ngoại hối của chúng ta đã đạt được ý nghĩa quan trọng nhất. Đó là làm cho tiền Đồng trở thành đồng tiền duy nhất được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam. Tiền Đồng là đơn vị thanh toán, đơn vị tiền tệ duy nhất có giá trị hợp pháp trong giao dịch.

Có thời người dân đã quá chuộng dùng đồng USD cho các giao dịch, thanh toán có giá trị cao như mua xe, mua nhà hoặc các hàng hoá nhập khẩu và điều đó đã gây không ít khó khăn cho nền kinh tế. Cũng chính điều này đã làm cho tỷ giá USD/VND ngày càng trở nên quan trọng vì đồng USD không chỉ là một phương tiện thanh toán mà còn được xem là thước đo lạm phát, thước đo giá trị tiền tệ theo thời gian, thể hiện tính ổn định của kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy tỷ giá USD/VND luôn là vấn đề nhạy cảm, NHNN cũng hết sức vất vả, tốn kém nhiều nguồn lực để điều hành chính sách tỷ giá mà mục tiêu chủ yếu là ổn định tỷ giá USD/VND.

Đề cập tới đồng USD như vậy để chúng ta thấy rằng, sắp tới, nếu NDT được chấp nhận, hay thừa nhận giao dịch một cách rộng rãi, càng ngày càng có tính thanh khoản cao như USD, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng. Lúc đó, hiệu quả của chính sách tiền tệ sẽ suy yếu do vai trò của đồng tiền quốc gia không được tuyệt đối hóa.

Nhiệm vụ quan trọng của Ngân hàng Nhà nước là điều hành chính sách tiền tệ. Trong đó, ổn định mức giá của nền kinh tế là mục tiêu tiên quyết. Song do vấn đề tỷ giá ở Việt Nam rất nhạy cảm nên đôi khi mục tiêu ổn định tỷ giá đã được đặt lên hàng đầu.

Trước đây chỉ có USD, sau này nếu CNY được thừa nhận và ngày càng giao dịch rộng rãi trong nội địa Việt Nam, việc điều hành chính sách tiền tệ, điều hành tỷ giá sẽ ngày càng phức tạp hơn, khó đạt mục tiêu hơn và rủi ro mất ổn định kinh tế vĩ mô sẽ cao hơn.

Dù trong các quy định của Thông tư 19/2018/TT-NHNN chỉ cho phép dùng đồng VND, NDT để thanh toán đối với hoạt động thương mại ở những khu vực biên giới tại các tỉnh có đường biên giáp Trung Quốc gồm Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, Điện Biên. Nhưng làm sao chúng ta có thể kiểm soát và đảm bảo được lượng NDT sau giao dịch, sẽ không đi sâu vào nội địa Việt Nam qua những người đi buôn bán, du lịch. Chúng ta không thể đặt những trạm kiểm soát như thời nền kinh tế còn tập trung bao cấp để soát xét từng người đi qua. Chúng ta hiện chưa có phương pháp hữu hiệu nào để kiểm soát chuyện lượng CNY đó có được giao dịch và luân chuyển ra bên ngoài vùng biên hay không.

Đó là chưa kể hiện nay người Trung Quốc sang Việt Nam làm ăn, sinh sống rất đông. Nhiều người trong số họ đã mở những đại lý thu mua nông sản ở miền Tây Nam Bộ, rồi các doanh nghiệp do người Trung Quốc làm chủ hình thành những chuỗi kinh doanh ở Việt Nam.

Trước đây, có những doanh nghiệp, thương lái Trung Quốc chọn một đầu mối, chủ hàng người Việt Nam để thu mua trái cây như sầu riêng, thanh long, nhãn… rồi vận chuyển lên khu vực cửa khẩu, xuất sang Trung Quốc. Nhưng hiện nay, có những doanh nghiệp Trung Quốc trực tiếp cử đại diện xuống tận nơi trồng trọt, mở ra các doanh nghiệp làm nhiệm vụ thu mua, tổ chức vận chuyển, tạo thành quy trình khép kín từ đầu tới cuối. Điều gì đảm bảo rằng NDT không đi theo những “chuỗi giá trị” này để len lõi sâu vào nền kinh tế Việt Nam và càng ngày thì điều này sẽ càng khó kiểm soát.

Giờ đây, nếu chúng ta lại cho phép giao dịch NDT một cách dễ dàng, rộng rãi như vậy đồng nghĩa với nâng sức nặng của đồng NDT trong nền kinh tế Việt Nam. Làm như vậy thì người dân, các cơ quan quản lý, nền kinh tế Việt Nam hưởng lợi ích gì hay chỉ có chủ hàng, doanh nghiệp Trung Quốc hưởng lợi?

Làm như vậy nghĩa là chúng ta tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa Trung Quốc. Đồng thời, khiến người dân và doanh nghiệp Việt Nam chịu thiệt thòi.

Trong nhiều năm, Trung Quốc liên tục là đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, việc cho phép chuyển đổi dễ dang VND, CNY như vậy có khuyến khích việc xuất nhập khẩu hàng hoá giữa hai nước?

Quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam và Trung Quốc rất lớn. Theo Tổng cục Thống kê, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu song phương đạt 93,8 tỷ USD năm 2017 và 47,7 tỷ USD trong nửa đầu năm 2018. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc đạt 16,63 tỷ USD, tăng 28%; kim ngạch nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc đạt 31,08 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ.

Với dung lượng thị trường lớn, nhu cầu cao, Trung Quốc đang nhập khẩu hầu hết các loại hoa quả của Việt Nam như vải, nhãn, dưa hấu, thanh long, xoài… Trung Quốc là thị trường lớn nhất của rau quả Việt Nam, chiếm tỷ trọng 74% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của cả nước, đạt 1,47 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Tuy nhiên, số liệu chính thức về giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn thấp hơn tới 26,2 tỷ đô la năm 2017 và 18,3 tỷ đô la trong 6 tháng đầu năm 2018 so với số liệu của Trung Quốc.

Rõ ràng Việt Nam đang mua hàng từ Trung Quốc nhiều hơn bán được hàng cho Trung Quốc. Cán cân mậu dịch của Việt Nam đang thâm hụt so với Trung Quốc và ngược lại, họ thặng dư so với chúng ta. Nếu chúng ta cho phép cư dân, thương nhân biên giới Việt Nam-Trung Quốc sử dụng NDT để thanh toán trực tiếp đối với hoạt động thương mại biên giới càng khiến hoạt động mua-bán, xuất-nhập khẩu dễ dàng hơn. Điều này sẽ làm cho cán cân mậu dịch giữa Việt Nam và Trung Quốc có thể sẽ thâm hụt lớn hơn và lợi ích ròng sẽ thiên về phía Trung Quốc chứ không phải Việt Nam.

Khi đó chúng ta càng làm tăng sức ép của hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc lên hàng hóa nội địa và điều này càng gây khó khăn cho Doanh nghiệp nội địa của chúng ta nhiều hơn.

Liệu Việt Nam có thể trở thành thị trường nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung leo thang?

Đây là rủi ro hiện hữu với nền kinh tế Việt Nam. Khi hàng hóa Trung Quốc không thể xuất khẩu sang thị trường Mỹ, họ sẽ tìm tới các thị trường khác, trong đó có Việt Nam.

Giá cả của hàng hóa Trung Quốc vốn đã rẻ do giá nhân công, giá nguyên vật liệu đều rẻ, thì còn có một yếu tố hết sức quan trọng là chính sách tỷ giá. Chính phủ Trung Quốc cố tình duy trì chính sách tỷ giá làm suy yếu đồng NDT khiến 1 USD nói riêng, và các đồng tiền khác nói chung mua được nhiều hàng hóa Trung Quốc hơn trạng thái cân bằng. Chữ “rẻ” khi nhắc tới hàng hóa Trung Quốc một phần xuất phát từ các yếu tố kinh tế thực như nhân công, nguyên vật liệu, một phần khác còn do chính sách tỷ giá tạo nên.

Hiện tại, Trung Quốc đang áp dụng chính sách tỷ giá này như một thứ vũ khí để trả đũa Mỹ và các quốc gia khác bằng cách tiếp tục làm suy yếu đồng NDT. Với một quốc gia xuất siêu như Trung Quốc, khi họ làm suy yếu đồng nội tệ, họ được hưởng lợi nhiều hơn chịu thiệt hại.

Vậy nên, sức ép với Việt Nam là hàng hóa Trung Quốc vốn đã rẻ, nay còn rẻ hơn. Việt Nam trước đây đã nhập siêu từ Trung Quốc, bây giờ khi hàng hóa Trung Quốc rẻ hơn, Việt Nam sẽ nhập siêu nhiều hơn vì sức mua của VND đối với hàng hóa Trung Quốc lớn hơn.

Các mặt hàng tiêu dùng nhập khẩu từ Trung Quốc như bánh kẹo, đồ chơi trẻ em, vải vóc… sẽ tràn vào Việt Nam, tạo tác động lớn đối với nền kinh tế. Đây đều là các mặt hàng có độ co giãn của cầu theo giá lớn, chỉ cần giá giảm sẽ tác động mạnh tới yếu tố cung-cầu trên thị trường. Đây là sức ép lớn lên cán cân mậu dịch Việt Nam-Trung Quốc từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung.

Trên thực tế, hàng hóa Trung Quốc được bày bán tràn ngập từ chợ dân sinh, siêu thị tới trung tâm thương mại. Nếu hàng hóa Trung Quốc rẻ hơn, nhu cầu của người mua sẽ tăng lên. Thậm chí, các doanh nghiệp trước đây dùng nguyên vật liệu nhập khẩu từ các quốc gia khác, giờ đây thấy nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc rẻ hơn, họ sẽ chuyển sang dùng nguyên liệu Trung Quốc để giảm giá thành sản xuất. Kết quả, càng làm tăng nhập siêu của Việt Nam đối với hàng hóa Trung Quốc.

Việc cho phép thanh toán trực tiếp bằng đồng NDT sẽ khiến quá trình này diễn ra nhanh hơnVậy điều này sẽ tác động thế nào tới thị trường nông sản Việt Nam và hoạt động xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc?

Thực sự tôi luôn tự hỏi là: “Mức độ phụ thuộc của nền kinh tế Việt Nam vào Trung Quốc lớn đến cỡ nào?”. Bởi lẽ chúng ta đã liên tục chứng kiến những hàng xe tải chở chuối, dưa hấu dài nhiều cây số xếp dọc cửa khẩu biên giới Việt-Trung để chờ được phía Trung Quốc cho thông quan dẫn đến hàng hoá bị hư phải đổ bỏ và chúng ta đã từng chứng kiến biết bao nhiêu giọt nước mắt của người nông dân đã rơi trên những bao nông sản phải bỏ đi vì bạn hàng Trung Quốc như thế.

Nhiều lần các cơ quan chức năng phải đứng lên kêu gọi giải cứu dưa hấu, giải cứu lợn. Vì sao lại có những cuộc giải cứu như vậy?

Là bởi chúng ta hoàn toàn phụ thuộc và bị động đối với thị trường Trung Quốc. Chúng ta chỉ biết sản xuất còn mọi thứ còn lại đều lệ thuộc vào Trung Quốc.

Ở đây, các cơ quan tham vấn thương mại, cơ quan quản lý Nhà nước thiếu hẳn vai trò tư vấn, định hướng, quy hoạch sản xuất. Họ không nói rõ với người nông dân nên sản xuất cái gì, như thế nào, đầu ra ở đâu, nên bán cho những ai và quan trọng nhất là phòng ngừa rủi ro như thế nào?

Trước đây, còn có các công ty thu mua Việt Nam giữ vai trò trung gian điều phối. Nông dân bán nông sản cho họ, họ không bán được cho Trung Quốc thì sẽ tìm thị trường khác. 

Tuy nhiên, hiện có những doanh nghiệp Trung Quốc trực tiếp cử đại diện xuống các vùng sản xuất, mở ra các doanh nghiệp làm nhiệm vụ thu mua, tổ chức vận chuyển, tạo thành quy trình khép kín từ đầu tới cuối khiến người nông dân càng phụ thuộc vào doanh nghiệp Trung Quốc nhiều hơn. Điều này làm tăng tính phụ thuộc của kinh tế Việt Nam vào kinh tế Trung Quốc.

Câu chuyện này mang tính bao quát hơn câu chuyện xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc.

Ông có lo ngại sẽ xuất hiện tình trạng Nhân Dân Tệ hoá ở Việt Nam như tình trạng đô-la hoá không?

Tôi lo lắng mọi việc sẽ diễn biến giống như vết dầu loang. Đầu tiên, NDT sẽ được thanh toán trực tiếp ở các vùng biên, các chi nhánh ngân hàng ở các tỉnh vùng biên rồi dần dần sẽ lan rộng ra.

Về mặt quản lý Nhà nước, chúng ta có chế tài xử phạt đối với những hành vi vi phạm, hành vi bị cấm. Nhưng việc thực thi pháp luật, kiểm tra tính nghiêm minh của luật pháp liệu chúng ta có làm tốt không?

Điều tôi lo ngại là đồng NDT sẽ trở nên phổ biến. Dần dần, NDT sẽ đi sâu vào suy nghĩ, thói quen của mọi người như đã từng diễn ra với USD. Khi lượng NDT trong nền kinh tế lớn lên, sẽ tạo tác động lan tỏa tới toàn nền kinh tế. Thậm chí, có thể hình thành thói quen tiết kiệm bằng NDT giống như với vàng, USD.

Điều này làm tăng tỷ lệ lệ thuộc của kinh tế Việt Nam vào kinh tế Trung Quốc khi chúng ta chấp nhận sử dụng đồng tiền của họ. Tôi xin nhấn mạnh lại làm như vậy người dân, doanh nghiệp Việt Nam đều không được lợi. Còn các cơ quan quản lý phải giải quyết vấn đề phức tạp hơn.

“Phương trình” chính sách tiền tệ có thêm một biến NDT sẽ càng khó giải hơn. Trước đây, NHNN điều hành chính sách tiền tệ chỉ có biến USD và giá vàng đã rất khó khăn. NHNN đã tốn nhiều công sức để loại vàng ra khỏi phương trình đó, để câu chuyện điều hành tỷ giá chỉ có USD/VND. Nhưng chỉ mỗi tỷ giá USD/VND cũng đã gây sức ép rất lớn lên chính sách tỷ giá khi chiến tranh thương mại xảy ra.

Nếu chấp thuận thêm sự xuất hiện của đồng NDT, và để nó trở nên quen thuộc với người dân, mọi chuyện sẽ phức tạp hơn. Tôi cho rằng Thông tư 19/2018/TT-NHNN giúp giao thương vùng biên trở nên dễ dàng, người dân buôn bán thuận lợi và hạn chế rủi ro tỷ giá. Song cái lợi này quá nhỏ so với rủi ro đất nước phải gánh chịu về lâu dài.

Theo ông, doanh nghiệp sẽ phản ứng thế nào về việc mở cửa một phần cho NDT, siết USD?

Các doanh nghiệp sẽ phản ứng khi chính sách tạo ảnh hưởng tiêu cực tới bài toán kinh doanh, bài toán chi phí-giá thành của họ. Các doanh nghiệp hoạt động buôn bán, xuất nhập khẩu liên quan tới NDT sẽ chịu tác động trực tiếp.

Trong số này, sẽ có doanh nghiệp được hưởng lợi, nhưng cũng có doanh nghiệp chịu thiệt hại. Đây là câu chuyện bình thường trong nền kinh tế bởi đơn giản đó là bài toán giá cả trong kinh doanh.

Nhưng tôi nhấn mạnh số lượng hưởng lợi rất nhỏ. Còn rủi ro về lâu dài, là viễn cảnh kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc ngày càng sâu sắc hơn và sự xuất hiện của “đồng USD thứ hai” là NDT sẽ kéo theo nhiều hệ quả khôn lường.

Xin cảm ơn ông!

(Bài viết được trích đăng lại với sự cho phép của Tiến Sĩ Nguyễn Khắc Quốc Bảo)

Xem thêm:

“Vành đai, con đường”của Trung Quốc & Cơ Chế Tiền Tệ Petro -Yuan

Trả lời